Hiển thị các bài đăng có nhãn hot. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hot. Hiển thị tất cả bài đăng

Cát Bà - thiên đường mặt đất từ thời người nguyên thủy

Tài liệu khảo cổ học đã xác nhận Cát Bà là một trong những nơi có con người nguyên thuỷ khá sớm. Khoảng thời gian biển tiến (theo tài liệu địa chất là vào khoảng 17.000-9.000 năm cách ngày nay), hệ thống các đảo trong vịnh Bắc Bộ bị phân tách ra khỏi lục địa. Lúc này, tại vùng biển đảo Hạ Long - Cát Bà đã có một nhóm cư dân chuyên sống trong các hang động đá vôi, mà khảo cổ học gọi là cư dân văn hoá Hoà Bình (có người gọi là văn hoá Soi Nhụ - tên một di chỉ khảo cổ học được phát hiện tại vịnh Hạ Long).

Trong số 67 hang động chứa đựng dấu tích cổ sinh và khảo cổ tìm thấy ở quần đảo Cát Bà như: Áng Giữa, Tiền Đức (xã Việt Hải), hang Giếng Ngóe (thị trấn Cát Bà), cụm hang Áng Mả và Mái đá Ông Bẩy (xã Hiền Hào)… đều có cùng nội dung văn hoá vật chất như các di chỉ văn hoá Hoà Bình trong lục địa và di chỉ Soi Nhụ trên vịnh Hạ Long.
Các cư dân thuộc văn hoá Hoà Bình này sống trong môi trường lục địa, họ khai thác ốc trong môi trường nước ngọt để ăn. Tại các di chỉ thuộc văn hoá Hoà Bình trên đảo Cát Bà, hiếm thấy công cụ đá, chủ yếu bắt gặp những công cụ cuội mài lưỡi, công cụ cuội kiểu hình đĩa được chế tạo từ những mảnh cuội bổ kiểu Hoà Bình - Bắc Sơn, thêm vào đó là sự có mặt của những công cụ bằng loại chất liệu đá vôi (đá gốc) bản địa. Nhìn chung, các di chỉ thuộc văn hoá Hoà Bình trên quần đảo Cát Bà thường có tầng văn hoá không dày và chỉ có một tầng văn hoá, chứng tỏ thời gian cư chiếm không lâu.
Tuổi xác định trên mẫu ốc nước ngọt lấy từ hang Áng Mả, Mái đá Ông Bẩy bằng phương pháp C14 cho biết niên đại tồn tại của văn hoá Hoà Bình ở Cát Bà là từ 25.000 đến 15.000 năm. Riêng các công cụ cuội mài tìm thấy trong hang Eo Bùa lại thuộc về một giai đoạn muộn hơn và có thể tuổi nhóm di tích tương đương với Eo Bùa còn kéo dài đến khoảng trên dưới 10.000 năm, thậm chí chỉ trước tuổi của di chỉ Cái Bèo không xa. Các nhà khảo cổ học cho rằng, có một bộ phận cư dân thuộc văn hoá Hoà Bình đã tiến dần ra biển, họ vẫn ở hang động núi đá vôi và tạo nên những trầm tích văn hoá đầy vỏ ốc với loại hình công cụ lao động đặc trưng là những rìu ngắn kiểu Hoà Bình, nạo hình đĩa…
Điều này đã chứng tỏ lớp cư dân cư trú trên quần đảo Cát Bà nói riêng và vùng ven biển Đông Bắc nói chung thuộc giai đoạn muộn của văn hoá Hoà Bình chính là tổ tiên của cư dân thuộc nền văn hoá Hạ Long, Cái Bèo sau đó. Trong các di chỉ văn hoá Hoà Bình trên quần đảo Cát Bà có những dấu vết chắc chắn của việc sử dụng lửa: những bếp than tro, những đoạn xương thú có vết thui, những hòn đá ám khói đen. Những đống vỏ ốc nước ngọt bị chọc thủng, xương thú bị chặt, bị đập cho phép khẳng định rằng người cổ ở đây có hái lượm và đi săn.
Khi đường bờ biển được hình thành về cơ bản giống như ngày nay (quãng biển tiến holocene trung, cách ngày nay khoảng 7.000-5.000 năm), con người cư ngụ ở vùng biển Đông Bắc đã có những thay đổi căn bản về phương thức cư trú, họ từ trong hang động bước ra ngoài bãi biển. Sự thay đổi mang ý nghĩa như một cuộc cách mạng kinh tế trong thời tiền sử ở Cát Bà được phản ánh khá rõ nét trong các di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (thị trấn Cát Bà), Ao Cối (xã Phù Long), mái đá Vạ Bạc (xã Xuân Đám)… Kết quả nghiên cứu, khai quật di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (thị trấn Cát Bà) cung cấp: Đây là một làng chài cổ có diện tích thuộc loại lớn nhất so với các làng đánh cá khác trên đảo như Ao Cối, Vá Bạc… Chủ nhân di chỉ Cái Bèo đã thành thạo nghề đánh cá biển ở các cửa sông hay vụng biển quanh vùng.
Người Cái Bèo đã đánh bắt được những loài cá lớn như cá sạo, cá úc, cá hồng ngự…, đều là những loài cá sống trong môi trường nước mặn, biển nông và các loài cá nhám, cá đao… chuyên sống ở biển sâu. Đặc biệt, qua nghiên cứu các đốt sống xương cá trong các tầng văn hoá di chỉ Cái Bèo, Ao Cối, Xé Bạc… cho biết người cổ Cát Bà đã đánh bắt được nhiều loài cá lớn, có con nặng tới vài tạ.
Điều đó chứng tỏ, họ đã đạt trình độ đi biển cực kỳ thành thục và có phương pháp đánh bắt cá ở trình độ cao. Tuổi của làng cổ Cái Bèo được xác định bằng phương pháp C14 là vào khoảng 6475+-205 năm và 5645+-115 năm cách ngày nay. Theo tính toán của các nhà địa chất học, ở thời điểm này, biển còn ở xa bờ hơn hiện tại khoảng 150km.
Di chỉ Cái Bèo và di chỉ Ao Cối đều có địa tầng khá dày (hơn 2m) với đặc điểm: chủ nhân của các di chỉ này chủ yếu sinh sống ở ngoài trời, đã biết đi biển đánh cá và khai thác thức ăn rừng, chặt cây làm nhà, làm thuyền, biết chế tạo đồ gốm. Công cụ lao động chủ yếu là rìu kiểu Xumatra (những viên cuội hình tròn hay bầu dục, to vừa tầm tay cầm, được ghè đẽo qua loa ở hai mặt hoặc chỉ ở một mặt. Loại rìu này lần đầu tiên được tìm thấy ở ven đảo Xumatra-Inđônêxia), rìu ngắn, rìu dài, nạo, chày và bàn nghiền, bàn mài bằng đá, lao đá, đồ gốm thô có vết nan tre và hoa văn vặn thừng, chì lưới bằng đá…
Phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng nguồn sống chính của người cổ Cái Bèo vẫn là hái lượm và đánh cá. Căn cứ vào số lượng chày và bàn nghiền, có thể đoán rằng ngũ cốc cũng đã là một loại lương thực quan trọng, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng đích xác của kinh tế nông nghiệp, còn dấu vết của ngành đánh cá thì khá nổi bật ở di chỉ Cái Bèo, Ao Cối, mái đá Xé Bạc. Tuổi C14 của di chỉ Bãi Bến khoảng 3.400-3.900 cách ngày nay.
Con người Bãi Bến đã biết sử dụng kỹ thuật cưa, khoan, tiện đá và tu ép chỉnh, cho nên chế tạo được công cụ đá đẹp và tốt hơn trước rất nhiều. Tất cả các chế phẩm tìm thấy ở Bãi Bến đều nhẵn nhụi, có hình thù chính xác và rất đẹp. Mô hình kinh tế biển ở các di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long trên quần đảo Cát Bà không rõ ràng như giai đoạn trước: trong tầng văn hoá thường ít gặp xương cá, vỏ sò, điệp.
Có lẽ, lúc này đánh cá không còn là ngành kinh tế quan trọng lắm nữa, bên cạnh săn bắn, hái lượm vẫn được duy trì, nhưng trồng trọt và chăn nuôi đã trở thành nguồn sống chủ yếu của người Bãi Bến. Tại các di chỉ văn hoá Hạ Long ở Cát Bà đã tìm thấy dấu vết của nghề dệt, kỹ thuật luyện kim, công cụ đá được lắp vào cán gỗ vững vàng và tiện lợi hơn, kỹ nghệ đồ gốm có bước tiến vượt bậc (nặn bằng bàn xoay và nung trong lò). Qua các di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long đã phát hiện cho thấy, con người thời kỳ này trên đảo Cát Bà đã tụ tập thành làng xóm khá trù mật, biết làm nhà cửa khá chu đáo, có bếp, nồi niêu, bát đĩa và các đồ dùng khá đầy đủ, đồ trang sức cũng hết sức phong phú.

Như vậy trên quần đảo Cát Bà, người nguyên thủy xuất hiện khá sớm, cách đây 1,5-2,5 vạn năm. Đối với người nguyên thuỷ, Cát Bà là một thiên đường giữa trần thế, ngoài rau củ, các loại thức ăn tôm cá, chim thú là nhu cầu không thể thiếu. Nơi ở của họ, những mái đá, những hang động Trung Trang, Giếng Ngéo, Quân Y, Tiền Đức, Đá Hoa, Phù Long, Hang Rí, Áng Mả… là những ngôi nhà tuyệt vời do tạo hoá xây dựng, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và an toàn trước sự tấn công của mọi kẻ thù, bao quanh các hang động là rừng rú cây cối um tùm, chim thú đầy đàn…

Chùa Tháp Tường Long ngọn tháp rồng vàng hạ thế

Khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng nổi tiếng với những bãi tắm lý tưởng và phong cảnh hữu tình. Nhưng ít người biết rằng trên đỉnh Long Sơn (phường Ngọc Xuyên), ngọn núi đầu tiên trong 9 ngọn chạy dọc bán đảo Đồ Sơn còn có một di tích văn hóa lịch sử với cả nghìn năm tuổi - đó là tháp Tường Long.
Lịch sử tháp
Tháp Tường Long (còn gọi là tháp Đồ Sơn) xây thời Lý Thánh Tông. Công trình kiến trúc Phật giáo này đuợc xây trên bãi đất rộng khoảng 2.000 m2, thuộc địa phận phường Vạn Sơn, thị xã Đồ Sơn. Bốn góc tháp đều nghiêng vào tâm 190.
Chùa Tháp Tường Long bên trong
Đặc điểm Tháp
Lòng tháp rỗng và là nơi đặt pho tuợng A di đà. Công trình đuợc xây bằng gạch và đá có kích thuớc khác nhau. Ngoài loại gạch xây, còn có loại gạch ốp ngoài vỏ tháp với nghệ thuật trang trí độc đáo như hoa sen, hoa cúc, hoa chanh. Cách trang trí này biểu hiện nghệ thuật điển hình thời Lý.
Tháp Tường Long
Theo sách "Đại Việt sử lược" thì năm Mậu Tuất 1058, vua Lý Thánh Tông sau khi ngự giá qua biển Ba Lộ đã dừng chân ghé lại nơi đây xây tháp. Sau ngài nằm mộng thấy rồng vàng bèn ban cho ngọn tháp cái tên Tường Long, nghĩa là "Thấy rồng vàng hiện lên" để ghi nhớ điềm lành. Lại có người cho rằng cửa biển Đồ Sơn là một trong những cái nôi tiếp nhận cho dựng tháp ở đây để thờ Phật. Khi xưa, có thể nơi đây còn là một đài quan sát nằm trong hệ thống "truyền đăng". Mỗi khi có biến, các trạm quan sát ven biển liền đốt cỏ khô cho khói bay lên trời, truyền tín hiệu báo động về kinh thành.

Kiến trúc trong chùa Tháp Tường Long
Tháp qua thời gian
Qua những di vật còn lại thì thấy rằng tháp Tường Long được xây cùng thời với tháp Báo Thiên ở kinh thành Thăng Long (nay là khu vực Nhà hát lớn Hà Nội). Theo Đại Nam nhất thống chí", tháp cũ Đồ sơn cao 100 thước, dựng trên một khu đất rộng 1000m2, có 9 tầng, cửa mở ra hướng tây. Một thước ta dài 0,45m, như vậy tháp cao khoảng 0,45m, lại đặt trên ngọn núi cách mặt biển 100m nên ngọn tháp này thuộc loại cao nhất so với các tháp ở Việt Nam thời bấy giờ. Tháp Tường Long nhiều lần được tu tạo và khôi phục trong triều Trần và triều Lê, nhưng đến năm Gia Long thứ 3 (1804), triều đình nhà Nguyễn đã cho phá tháp để lấy gạch xây thành Hải Dương. Điều này chứng tỏ tháp Tường Long xưa vô cùng qui mô, bề thế.

Chuông trong chùa Tháp Tường Long
Từ vị trí tháp Tường Long có thể thấy biển với những con tàu ra khơi vào lộng lấy đế đánh bắt cá mang về nguồn hả sản tươi ngon phục vụ cho du khách, thấy thị xã Đồ Sơn cùng làng mạc, đồng ruộng xanh tươi, lại hiểu người xưa sao khéo chọn địa điểm xây tháp.

Điêu khác đá trong chùa Tháp Tường Long
Đến Đồ Sơn ghé qua tháp Tường Long không thế nào quên được hình ảnh ngôi chùa tháp uy nghi tráng lệ và được xem như là ngọn tháp “rồng vàng hạ thế”.

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 1991. Nguyễn Bỉnh Khiêm thủa nhỏ tên gọi là Văn Đạt quê ở trang Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Ngày sinh của ông chưa có sách nào ghi cụ thể. Theo cuốn "Công dư tiệp ký" của Vũ Phương Đề - một danh thần ở khoảng cuối đời Lê Trung Hưng người làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương thi đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn năm 1736 đời Lê Ý Tông, làm quan tới chức Đông Các hiệu thư thị tham chánh sơn Nam đã viết: "Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491) lúc nhỏ vốn dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Năm 4 tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài nghĩa của kinh, mới đọc qua đã thuộc làu làu...". 

Lớn lên được mẹ và thầy Dương Đức Nham dạy học. Sang tuổi trưởng thành, ông học thầy bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Do xã hội lúc đó nhiều biến động, mãi đến năm 44 tuổi ông mới dự thi thời triều Mạc. Cả 3 kỳ thi đề đỗ giải Nguyên Khôi. Kỳ thi Đình năm Ất Tỵ (1535), ông đỗ Trạng Nguyên và được Vua bổ làm Hiệu thư ở viện Hàn Lâm, rồi Đại học sỹ tòa Đông Các. Ông làm quan cho nhà Mạc được 8 năm rồi dâng "Thất trảm sớ", không được Vua ưng thuận nên cáo lão từ quan về quê, mở trường dạy học, sáng tác hàng nghìn bài thơ bằng chữ Nôm và chữ Hán. Người đời tương truyền, ông có nhiều bài sấm ký bao quát tầm nhìn thời thế ứng nghiệm. Nhiều học trò theo học ông đã lừng danh như: Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Đinh Thời Trung, Trương Thời Cử... có người làm tới chức Tể Tướng. Như vậy, Ông không chỉ là cây đại thụ về thơ văn mà còn là một nhà giáo lỗi lạc.
Mặc dù sống cuộc đời điền viên, vui thú cỏ cây hoa lá, ngam thơ, vịnh cảnh cùng môn sinh nhưng lòng ông vẫn đau đáu nỗi yêu nước, thương dân. Ông mất ngày 28 tháng Giêng mùa đông năm Ất Dậu (1585) niên hiệu Diên Thành thứ 9 đời Mạc Mậu Hợp, thọ 95 tuổi.

Triều đình nhà Mạc cử Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng về dự lễ viếng và thay mặt Vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công. Tháng Giêng năm Bính Tuất (1586), Vua Mạc ban cấp cho làng Trung Am 3000 quan tiền để lập đền thờ ông, có gắn biển mang hàng chữ "Mạc triều Trạng Nguyên tể tướng từ" do nhà Vua tự tay đề, đồng thời giao cho địa phương 100 mẫu ruộng thờ ông (theo TS Vũ Khâm Lân trong sách Đại Việt sử loại tiệp lục). Như vậy, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nền đất cũ được xây dựng xưa nhất là năm 1586. Sau đó do biến động của lịch sử, ngôi đền đó không còn, sau này mới được dựng lại. Theo "Công dư tiệp ký" của ông Vũ Phương Đề ghi: "năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735, đời Lê Ý Tông) người trong làng vì nhờ Thị Đức của tiên sinh có dựng lại trên nền nhà cũ... người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân, thu hai kỳ đến tế lễ".
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mười đến thăm đền đã ghi hàng chữ lưu niệm "Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh hân văn hóa như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, nhân cách cao cả cùng với tri thức uyên bác và tài năng sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của ông mà đến nay chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng". 

Năm Mậu Thìn 1929 (Bảo Đại thứ 3), dân làng quyên góp tiền bạc, công sức tu tạo lại ngôi đền. Tháng 9/1985, ngôi đền được Thành phố chỉ đạo tu sửa, mở mang khuôn viên, sửa lại đường sá. Năm 1998, đền được nâng cấp, tôn nền xây tường bao.
Đặc biệt vào cuối năm 2000, kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng duyệt kế hoạch cho nâng cấp tạo dựng cả một vùng rộng lớn thành quần thể "Di tích danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm" gồm: "Quán Trung Tân", mộ phần cụ Nguyễn Văn Định (thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm), khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chùa Song Mai nơi phu nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tu hành. Đường đi được làm lại, khuôn viên, vườn cây lưu niệm được qui hoạch, cảnh quan thật khang trang, ngoạn mục.

Quần thể Di tích – Danh thắng Tràng Kênh

Khu di tích lịch sử và danh thắng Tràng Kênh thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có bề dày lịch sử văn hóa, đồng thời đây còn là một danh thắng với cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ do hệ thống núi đá vôi và sông ngòi tạo thành.


Cổng khu Di tích Bạch Đằng Giang - Tràng Kênh, Hải Phòng

Tràng Kênh, vùng đất cổ được biết đến qua di chỉ khảo cổ học nổi tiếng, hiện còn bảo lưu trong lòng đất. Theo các nhà nghiên cứu, Tràng Kênh là một di chỉ khảo cổ học, một công xưởng chế tác đồ trang sức bằng đá lớn nhất vùng Đông bắc Tổ quốc, có niên đại cách ngày nay gần 4000 năm, thuộc sơ kỳ thời đại kim khí. Từ buổi khai sơn, phá thạch, tạo dựng cuộc sống, người Tràng Kênh với bàn tay khéo léo đã chế tác ra những đồ trang sức bằng đá tinh xảo, với những vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt đa dạng, phong phú, đầy màu sắc. Thông qua các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đã kết luận rằng: Tràng Kênh cách đây gần 4000 năm đã thực sự là một công xưởng chế tác đồ đá có quy mô lớn, sản phẩm của nó không chỉ được trao đổi ở nội địa, mà còn vượt biển tới các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á.

Công khu di tích Bạch Đằng Giang chụp từ trong ra

Trúc Lâm Thiền tự

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, vùng đất này được coi là một phên dậu chống giặc ngoại xâm. Dấu ấn lịch sử để lại đến nay cho biết, Tràng Kênh là một trận địa quan trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288 do Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy, đánh tan đội quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Với các địa danh đã đi vào sử sách dân tộc như núi U Bò, Hoàng Tôn, Phượng Hoàng hay cửa Bạch Đằng, nơi hợp lưu của 3 con sông đổ về, cùng các dấu tích về những trận địa cọc hay những địa danh như Áng Hồ, Áng Lác cho biết vùng đất này đã ghi dấu về một chiến trường do quân và dân triều Trần bày trận đòn đánh quân thù. Ngày nay dưới chân núi Hoàng Tôn trong hệ thống núi đồi ở Tràng Kênh còn ngôi đền thờ một vị tướng của vương triều Trần. Đó là đền thờ Trần Quốc Bảo. Ông thuộc tôn thất nhà Trần có công trong trận Bạch Đằng năm 1288, khi mất được nhân dân địa phương lập đền thờ. Theo nội dung tấm bia dựng vào niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) đời vua Lê Thần Tông, ngôi đền được xây dựng ở nơi có thắng cảnh đẹp vào hạng thứ nhất của xứ Hải Dương.

Toàn cảnh đền thờ Đức Vương Ngô Quyền

Tượng 3 vị anh hùng dân tộc. Từ trái qua phải: Hoàng đế Lê Đại Hành, Đức Vương Ngô Quyền, Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

Tràng Kênh - Bạch Đằng, một địa danh lịch sử từ lâu đã đi vào tiềm thức của người dân thành phố Hải Phòng như một ký ức không thể nào quên về một chiến công vĩ đại chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta cách đây trên 7 thế kỷ. Cùng với nhiều di sản mang những nội dung lịch sử văn hóa có giá trị, Tràng Kênh - vùng đất thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh năm 1962.

Các dự án trọng điểm năm 2019 của thành phố Hải Phòng

Dự án Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.Ảnh: Đức Nghĩa
Danh mục các dự án trọng điểm năm 2019 ban hành kèm theo Nghị quyết số 27/NQ-HĐND ngày 10/12/2018 của HĐND thành phố Hải Phòng:
Các dự án đầu tư công cần ưu tiên bố trí vốn đầu tư công và tập trung chỉ đạo, điều hành:
1. Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Bắc sông Cấm.
2. Dự án đầu tư xây dựng trục đường Hồ Sen – Cầu Rào 2, đoạn từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã ba đường Chợ Con.
3. Các dự án nâng cấp tuyến đường 356 xuyên đảo Cát Bà
4. Dự án xây dựng nút giao Nam Cầu Bính
5. Dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường Máng Nước từ chân cầu Bính nối với đường 359 tại thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên.
6. Dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng.
7. Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn thành phố Hải Phòng (giai đoạn I).
Các dự án cần tập trung chỉ đạo, điều hành:
8. Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển đoạn qua địa bàn thành phố Hải Phòng và 9km trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
9. Các dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng lại các chung cư cũ, xuống cấp trên địa bàn thành phố.
10. Dự án Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast (do Tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư).
11. Các dự án du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Cát Hải (do Tập đoàn Sungroup làm chủ đầu tư).
12. Dự án đầu tư xây dựng Nhà ga hành khách số 2 tại Cảng hàng không quốc tế Cát Bi.
13. Dự án đầu tư xây dựng cầu Tân Vũ – Lạch Huyện số 2.
14. Dự án đầu tư xây dựng bến số 3, 4 tại Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (do Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng làm chủ đầu tư).

VỊ TRÍ ĐẮC ĐỊA - THẾ MẠNH SẮC BÉN CỦA VINHOMES MARINA

Nằm tại Cầu Rào 2, vị trí đắc địa của Vinhomes Marina có thể xem là thế kiềng ba chân vững chắc, điểm tựa dài hạn cho tiềm năng giá trị trong tương lai.
Liền kề Đại lộ Đông Tây - Nhanh chóng liên kết với trung tâm thành phố
Nằm tại đường Cầu Rào 2 (phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân), Vinhomes Marina sở hữu lợi thế rất lớn để dễ dàng di chuyển đến các cơ quan trọng yếu của thành phố. Từ Vinhomes Marina, cư dân chỉ mất 5 phút đến Bến xe Cầu Rào 1, Trường THPT Lê Chân, Viện Y học Biển Việt Nam; 10 phút để đến Vườn hoa Trung tâm Thành phố, Sân vận động Lạch Tray, Sân bay Cát Bi, Cảng Hải Phòng, Ga Hải Phòng; 15 phút đến UBND Thành phố, Nhà hát lớn...
Ngay tại vị trí đắc địa này, Vinhomes Marina sở hữu một không gian rộng đến 49.2ha, bao gồm 7.2ha hồ điều hòa. Tại tọa độ vàng của Hải Phòng, cư dân Vinhomes Marina sẽ được tận hưởng một cuộc sống thượng lưu chuẩn mực, tách biệt khỏi sự ồn ào, khói bụi nhưng vẫn vô cùng phồn vinh, tráng lệ.


inhomes Marina còn mới mẻ và đột phá với hàng loạt tiện ích như Đại lộ Ánh sáng, Con đường tình yêu, Nhà hàng thuỷ tạ phong cách Santorini, Bể bơi hướng hồ... (hình ảnh minh hoạ)

Nằm cạnh trục tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Không chỉ dễ dàng kết nối tới các địa điểm trọng yếu của thành phố, Vinhomes Marina còn kết nối trực tiếp tới đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Vì vậy, từ đây cư dân cũng chỉ mất 1 tiếng để đến Thủ đô hoặc thành phố Hạ Long. Lợi thế này giúp cư dân Vinhomes Marina có thể thuận lợi giao thương, tạo tiềm năng lớn về kinh tế. Khi đi vào hoạt động, Vinhomes Marina hứa hẹn sẽ trở thành điểm đến thời thượng không chỉ của cư dân Hải Phòng mà còn cả khách du lịch và cộng đồng cư dân tinh hoa các tỉnh thành lân cận.
Với vị trí “vàng” này, Vinhomes Marina tạo ra sức hút với nhiều đối tượng khách hàng phong phú: cư dân thượng lưu Hải Phòng đang tìm kiếm nơi an cư lý tưởng, các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội sinh lời vững chắc và cả giới nhà giàu từ Hà Nội, Quảng Ninh khi muốn tìm kiếm “của để dành” tiềm năng.


Các căn biệt thự, nhà liền kề, shophouse dự án Vinhomes Marina có diện tích 75 - 450m2, đặc trưng bởi phong cách kiến trúc Hy Lạp và Địa Trung Hải (hình ảnh minh hoạ)

Phong thủy thịnh vượng với sông Lạch Tray phía Nam dự án
Theo phong thủy, nguồn nước ở phía Nam là điềm “cát lợi”, dấu hiệu của một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, ngay khi có thông tin Vinhomes Marina được xây dựng tại khu vực tiếp giáp với sông Lạch Tray nặng phù sa ở hướng Nam, giới đầu tư bất động sản đã rộ lên những cơn sốt thực sự.
Không chỉ được thừa hưởng thế đất tự nhiên, ngay trong nội khu Vinhomes Marina cũng được xây dựng hồ điều hòa có diện tích đến hơn 7ha. Hai dòng nước phồn vinh này kết hợp với nhau tạo ra nguồn sinh vượng khí, thủy khí lưu chuyển quanh năm, đem đến tài lộc, may mắn cho các chủ nhân. 

Khu tưởng niệm Vương triều Mạc

Theo Toàn thư và Đại việt thông sử, Mạc Đăng Dung (1483 – 1541) người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng), là cháu 7 đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Sinh ra ở vùng biển, thuở thiếu thời, Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá, nhưng lại có trí dũng hơn người. Trong cuộc thi tuyển dũng sĩ đời vua Lê Uy Mục tại Giảng võ đường Thăng Long, ông đã trúng Đô lực sĩ xuất thân - Võ Trạng nguyên, được sung quân Túc vệ. Trong giai đoạn này, triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoài nông dân nổi dậy khởi nghĩa, Mạc Đăng Dung được giao trấn thủ Hải Dương. Vua Lê Chiêu Thống ở kinh thành Thăng Long bị quân khởi nghĩa của Nguyễn Kính nổi loạn, uy hiếp. Mạc Đăng Dung mang quân về kinh thành cứu giá, một mình dẹp loạn, được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân quốc công...


Năm 1527, ông được triều Lê phong làm thái sư An Hưng Vương. Tháng 6 năm 1527, ông được Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua, lập ra nhà Mạc với niên hiệu Minh Đức. Học theo nhà Trần, trị vì được 2 năm, đến năm 1529, ông nhường ngôi cho con cả là Mạc Đăng Doanh - tức Mạc Thái Tông, lui về làm Thái thượng hoàng, xây dựng thành nhà Mạc tại vùng đất Hải Phòng ngày nay.

Dưới triều Mạc, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam có nhiều thành tựu được lịch sử ghi nhận. Đó là thời thịnh trị của chợ búa, cảng thị sầm uất, văn hóa dân gian nở rộ. An ninh trật tự, kỷ cương nghiêm minh. Về kinh tế, nhà Mạc đã có chính sách khuyến nông, ưu tiên cấp ruộng đất cho binh lính, chú trọng khẩn hoang, lập làng, đắp đê. Nhà Mạc không theo chính sách “trọng nông, ức thương” như thời Lê sơ, mà có chính sách rất cởi mở với nội thương và ngoại thương, phát triển sản xuất hàng hóa, thông thương thị trường nội địa với nước ngoài. Sản phẩm gốm hoa lam của nhà Mạc ở Bát Tràng, ở Nam Sách độc đáo, tinh xảo, xuất khẩu sang nhiều nước trong khu vực. Một số nghề thủ công mỹ nghệ như tạc tượng, đúc chuông được khuyến khích phát triển.

Về văn hóa, nhà Mạc luôn chú trọng chính sách thi cử, đào tạo nhân tài cho đất nước (kể cả đối với phụ nữ). Cứ 3 năm mở một kỳ thi Hội. Tổng cộng tổ chức được 22 khoa thi, lấy đậu 477 tiến sĩ, 11 trạng nguyên, 12 bảng nhãn, 19 thám hoa (chỉ đứng sau thời vua Lê Thánh Tông). Tiêu biểu là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, “ngôi sao Khuê” của thế kỷ XVI. Thời đó, Mạc Đăng Dung cho xây dựng Dương Kinh ở Cổ Trai, quê hương ông một hệ thống cung điện, lầu các, trường học như: Các Dương tự; điện Tường Quang, Phúc Huy; phủ Quốc Hưng; mả Lăng, đồn binh, kho lương… với quy mô đồ sộ. Để Dương Kinh trở thành “đô thị ven bến xứ Đông”, nhà Mạc cho xây dựng một số thương cảng trên bến dưới thuyền làm nơi giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước như: Lỗ Minh Thị, An Quý, Do Nha… gắn với việc xây dựng, trùng tu, tôn tạo nhiều di tích, nhất là chùa chiền ở Cổ Trai và vùng lân cận.

Vương triều Mạc tồn tại trong thời gian 65 năm trước khi bị lực lượng phong kiến nhà Trịnh với danh nghĩa phù Lê đánh bật ra khỏi Thăng Long năm 1592. Nhà Mạc đã trải qua 5 đời vua: Mạc Đăng Dung (1527 - 1529), Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540), Mạc Phúc Hải (1541 - 1546), Mạc Phúc Nguyên (1547 - 1561) và Mạc Mậu Hợp (1562 - 1592).

Đánh giá đúng vị thế của Vương triều Mạc và Dương Kinh, năm 2004, Bộ VH-TT quyết định xếp hạng di tích, công nhận “Từ đường họ Mạc ở Cổ Trai, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng là Di tích Lịch sử, Văn hóa Quốc gia”.

Do biến cố của lịch sử, Từ đường họ Mạc đã trải qua hơn 400 năm, công trình nguyên gốc duy nhất thờ Đức Mạc Thái Tổ, Đức Mạc Thái Tông còn lưu giữ lại ở mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đất Tổ, phát phúc của Vương triều, được con cháu họ Mạc Cổ Trai và nhân dân địa phương hưng công xây dựng cách đây hơn một trăm năm. Đến nay, công trình ấy vừa chật hẹp, vừa nhỏ bé, đơn sơ, đang bị dột nát, nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào.

Nối mạch phát triển xưa, bằng sức mạnh đoàn kết, cách nghĩ sáng tạo, người dân Dương Kinh, Kiến Thụy tiếp tục bảo tồn và phát huy truyền thống. Xây dựng nơi đây trở thành địa chỉ thu hút không chỉ các chi họ Mạc cả nước, mà còn du khách muôn phương về dâng hương tưởng niệm các vua triều Mạc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho con cháu hôm nay.

Điều chỉnh Quy hoạch chung Hải Phòng đến năm 2035

Điều chỉnh Quy hoạch chung Hải Phòng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050: Gợi mở bức tranh phát triển thành phố

Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng vừa ký Quyết định phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Phó Thủ tướng giao UBND thành phố Hải Phòng là cơ quan tổ chức lập quy hoạch và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi được Bộ Xây dựng thẩm định. Thời gian hoàn thành quy hoạch không quá 15 tháng kể từ ngày nhiệm vụ quy hoạch được duyệt. 

Đô thị Hải Phòng. Ảnh: Hồng Phong
Nâng cao vai trò vị thế của thành phố Hải Phòng trong khu vực và thế giới
Phạm vi, ranh giới và quy mô nghiên cứu bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính thành phố Hải Phòng, với diện tích 156.176 ha. Mục tiêu quy hoạch nhằm nâng cao vai trò vị thế của thành phố Hải Phòng trong khu vực và thế giới. Phát triển thành phố Hải Phòng thành thành phố cảng văn minh, hiện đại, thông minh và có bản sắc. Phát triển phù hợp với yêu cầu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm kinh tế biển hàng đầu của cả nước, là trung tâm dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao; trung tâm du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ. Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đô thị hiện đại, đồng bộ; phát huy vai trò là hạt nhân, đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc.
Theo quy hoạch, thành phố Hải Phòng là đô thị loại I trực thuộc trung ương, một trung tâm lớn về kinh tế, giáo dục, y tế và khoa học công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ; là thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại; đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế; có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh.
Dự báo đến năm 2025, thành phố Hải Phòng sẽ có khoảng 2,4 - 2,7 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 60 - 65%; đến năm 2035 sẽ có khoảng 3,5 - 4,5 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 70%.
Dự báo đến năm 2025, quy mô đất xây dựng đô thị khoảng 22.200 ha, chỉ tiêu 150 m2/người, trong đó đất dân dụng khoảng từ 9.000 ha - 11.500 ha, chỉ tiêu từ 60 m2/người - 78 m2/người. Dự báo đến năm 2035: Quy mô đất xây dựng đô thị khoảng 56.700 ha, chỉ tiêu 180 m2/người, trong đó đất dân dụng khoảng 18.900 ha - 24.500 ha, chỉ tiêu từ 60 m2/người - 78 m2/người.
Gợi mở về bức tranh phát triển Hải Phòng
Những yêu cầu trọng tâm nghiên cứu trong nội dung điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hải Phòng gồm: Rà soát tổng thể về nội dung quy hoạch chung đã được phê duyệt năm 2009 và tình hình thực tiễn phát triển đô thị tại thành phố Hải Phòng; rà soát định hướng phát triển các khu vực đô thị, quỹ đất phát triển đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy mô các khu vực chức năng, đánh giá tính phù hợp với xu thế và vận hội phát triển thực tế của thành phố Hải Phòng.

Bổ sung các nội dung mới về thiết kế đô thị, đánh giá môi trường chiến lược, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hệ thống giao thông công cộng, hệ thống không gian ngầm đô thị, chiếu sáng trang trí đô thị; nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu kiểm soát phát triển đô thị dựa trên hệ thống các phương pháp khoa học và cơ sở hiểu biết toàn diện về bảo tồn cảnh quan đô thị, khả năng cung ứng về hạ tầng kỹ thuật; đảm bảo tính toàn diện, sáng tỏ và gợi mở về bức tranh phát triển để triển khai các công tác tiếp theo về lập Quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc đô thị thành phố Hải Phòng. 

Bên cạnh đó, xây dựng các kế hoạch, chương trình phát triển đô thị; cải tạo, chỉnh trang các khu vực hiện hữu, điều chỉnh các quy hoạch phân khu, chi tiết trên địa bàn thành phố; tạo sự hấp dẫn đầu tư, tập trung nguồn lực phát triển vào những mục tiêu ưu tiên; rà soát, định hướng phát triển đáp ứng các tiêu chí đô thị loại I; nghiên cứu đề xuất định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao trong đô thị.
Về yêu cầu về nội dung hồ sơ điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hải Phòng, cần phân tích vị trí và mối quan hệ vùng. Cụ thể, phân tích các lợi thế và hạn chế do vị trí tạo ra. Phân tích mức độ khai thác lợi thế vị trí mà thành phố đã và chưa đạt được; phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực, trong nước, vùng duyên hải Bắc Bộ và những ảnh hưởng qua lại của nó đối với vận hội phát triển đô thị tại Hải Phòng.
Bên cạnh đó, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên và hiện trạng, trong đó, phân tích các chỉ tiêu về hiện trạng kinh tế - xã hội; các cơ sở kinh tế kỹ thuật chủ yếu trong thành phố, mức độ phát triển của các ngành kinh tế chủ lực của thành phố; phân tích mô hình, không gian hoạt động và nhu cầu không gian để phát triển cho các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất, cùng các không gian liên quan. Rà soát các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật theo quy hoạch kinh tế - xã hội mới nhất của thành phố; các chỉ tiêu đánh giá đô thị loại 1.

Thống kê dân số, lao động, cơ cấu nghề nghiệp, tỉ lệ dân số, lao động (5 năm gần nhất); phân tích xu hướng phát triển dân số, tình hình phân bố dân cư (đô thị - nông thôn), các hiện tượng dịch cư, các vấn đề do đô thị hóa; thống kê, tổng hợp, đánh giá tình hình sử dụng đất đai; phân tích đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu vực lập quy hoạch, đặc biệt là quỹ đất đã xây dựng đô thị, công nghiệp, du lịch, hạ tầng....; rà soát, đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất toàn thành phố.
Định hướng phát triển không gian đô thị là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Quy hoạch. Ảnh: Trọng Luân
Rà soát lại các dự án, định hướng phát triển không gian đô thị
Quy hoạch cần đánh giá thực trạng hệ thống hạ tầng xã hội trên các lĩnh vực: Hành chính, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi giải trí. Đặc biệt các công trình mang tính phục vụ cấp vùng: trung tâm giáo dục - đào tạo, trung tâm thể dục thể thao, trung tâm văn hóa, du lịch. Xác định những vấn đề còn tồn tại về hệ thống hạ tầng xã hội, đề xuất bổ sung hoặc tôn tạo trên cơ sở hiện trạng, tập trung chủ yếu về khía cạnh quỹ đất và xây dựng công trình.
Đánh giá hiện trạng các hệ thống hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên các lĩnh vực: đánh giá thực trạng chuẩn bị kỹ thuật, giao thông, cấp nước, cấp điện, thu gom xử lý nước thải, rác thải, nghĩa trang; hiện trạng các công trình đầu mối cấp vùng liên quan trực tiếp đến thành phố Hải Phòng; hiện trạng môi trường. Quy hoạch xem xét các vấn đề về quản lý đô thị như hiện trạng quản lý phát triển đô thị; các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý quy hoạch đô thị.
Rà soát các dự án đã và đang triển khai trên địa bàn thành phố: Tổng quan chung về các quy hoạch, chương trình, dự án trong khu vực. Xem xét đánh giá đồ án Điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Hải Phòng (năm 2009), Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải. Xem xét tính hiệu quả và sự phù hợp của các quy hoạch, chương trình, dự án với các vấn đề về mục tiêu, tầm nhìn đã đặt ra. 
Trong quy hoạch cần tổng hợp, kết luận về phân tích đánh giá hiện trạng, cụ thể: lập bảng phân tích tổng hợp đối với các yếu tố chính và phân hạng ưu tiên vấn đề cần giải quyết trong quy hoạch điều chỉnh.
Quy hoạch cũng sẽ định hướng phát triển không gian đô thị, quy hoạch sử dụng đất đai, định hướng xây dựng khung hạ tầng kỹ thuật, đánh giá môi trường chiến lược, xác định các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư đảm bảo phù hợp với dự báo nguồn lực thực hiện.

Xem Thêm